Phụ Nữ Tùng Thư - Phụ Nữ Bàn Về Vấn Đề Phụ Nữ Trên Phụ Nữ Tân Văn
$41.99 USD$56.99 USD26% off
Phụ Nữ Tùng Thư - Phụ Nữ Bàn Về Vấn Đề Phụ Nữ Trên Phụ Nữ Tân Văn
Tuần báo Phụ nữ tân văn (PNTV) là tờ báo thứ 2 ở Nam Kỳ do phụ nữ sáng lập, và được xem là tờ báo bằng chữ quốc ngữ thành công nhất Việt Nam thời đầu thế kỷ XX.
Cuốn sách này sưu tầm tuyển chọn các bài viết của các nữ nhà báo, nhà văn đăng báo Phụ nữ tân văn (1929-1935), thảo luận về các vấn đề của phụ nữ buổi đầu biết đến bình quyền. Các tác giả trong sách là các nữ nhà văn nhà báo đóng vai trò các cây bút chủ lực, cũng là bộ biên tập của tòa báo PNTV, như: Mme Nguyễn Đức Nhuận, Đạm Phương nữ sĩ, Cao Thị Ngọc Môn, Hướng Nhựt, Vân Đài, Phan Thị Nga và đặc biệt là Manh Manh nữ sĩ Nguyễn Thị Kiêm, người có khối lượng bài viết chiếm nhiều nhất trên diễn đàn báo chí nổi tiếng này.
PNTV được ghi nhận là diễn đàn báo chí nổi bật với các hoạt động có chủ đích rõ ràng và bền bỉ: vì sự nghiệp giải phóng phụ nữ, khuyến khích học và sử dụng chữ quốc ngữ, kêu gọi phụ nữ tham gia các hoạt động công ích vì sự phát triển toàn diện của xã hội mới, sự tân tiến của quốc gia. Cách thực hiện chủ trương cụ thể và gần gũi với nhiều tầng lớp phụ nữ từ thành thị đến nông thôn, từ quý tộc đến bình dân. Khuyên chị em giữ nếp cũ tốt đẹp và học theo cái mới ích lợi. Đả phá các hủ tục trói buộc người phụ nữ như tam tòng, tảo hôn... cũng như các thói rởm đời mới như hợm của, đua đòi... Khuyến khích phụ nữ tham gia các hội đoàn, luyện tập thể thao, mạnh dạn lên diễn đàn bày tỏ ý kiến của mình; cung cấp thông tin rộng rãi phong phú về các địa phương trên cả nước cũng như các bước tiến của phụ nữ nước ngoài, ngõ hầu mở mang dân trí phụ nữ, cổ vũ họ nghĩ và làm, bước ra xã hội chứ không còn nem nép xó nhà dưới trướng đàn ông...
Ngoài ra, theo dòng lịch sử, PNTV trở thành một nguồn tư liệu quý giá giúp hình dung về sự hình thành phát triển của báo chí và văn học phụ nữ Việt Nam những năm tháng mở đầu, với việc sử dụng toàn bộ và khá thuần thục chữ quốc ngữ trong các trước tác đăng báo của mình.
Thông tin tác giả:
Các nữ tác giả chủ lực của báo Phụ nữ tân văn:
- Bà Nguyễn Đức Nhuận tên thật là Cao Thị Khanh, sinh ra trong một gia đình khá giả ở Phú Nhuận, Gia Định. Thân phụ của bà là cụ Cao Văn Nhiêu (1860-1933), tự Thiện Khánh, thông thạo cả Hán học và Tây học, luôn chăm lo tới sự học của con cái. Em trai bà Cao Thị Khanh là Cao Văn Chánh cũng là một nhà báo, nhà hoạt động xã hội có tiếng ở Nam Kỳ. Chủ trương sáng lập báo Phụ nữ tân văn, bà Nguyễn Đức Nhuận cũng có viết bài đăng trên báo này. Ngoài ra, bà còn tham gia các hoạt động xã hội do phụ nữ sáng lập và điều hành.
- Đạm Phương nữ sử (1881-1947) là nữ nhà báo, nhà văn, nhà hoạt động nữ quyền tiêu biểu nhất ở buổi đầu phong trào phụ nữ Việt Nam. Bà Đạm Phương dòng dõi hoàng tộc, tên thật là Công Nữ Đồng Canh, cháu nội vua Minh Mạng, con gái của Hoằng Hóa Quận vương Nguyễn Phúc Miên Triện. Bà cộng tác với báo chí ngoài Bắc trong Nam từ cuối những năm 1910, trở thành nữ tác giả nổi bật trong làng báo làng văn cả ba kỳ những năm 1920. Năm 1926, bà sáng lập và là Chánh Hội trưởng Nữ công học hội Huế, tổ chức đầu tiên của phụ nữ Việt Nam.
Bà Đạm Phương có tên trong danh sách những phụ nữ giúp biên tập Phụ nữ tân văn từ những ngày đầu khởi sự.
- Cao Thị Ngọc Môn (có thể cũng là người kí các tên Cao Ngọc Môn, Cao Thị) có tên trong danh sách những phụ nữ giúp biên tập Phụ nữ tân văn từ những ngày đầu khởi sự. Chúng tôi chưa tìm hiểu được thông tin về nhân thân tác giả này.
- Hướng Nhựt: Ngoài địa chỉ “Hà Nội” được ghi cùng với tên Hướng Nhựt trong những bài đăng báo đầu tiên, chúng tôi chưa tìm hiểu được thông tin về nhân thân tác giả này. Trên Phụ nữ tân văn, tác giả Hướng Nhựt viết bài ở mục Gia chánh, đồng thời cũng viết, dịch thuật các bài luận bàn về các vấn đề phụ nữ và xã hội.
- Bà Vân Đài (1903-1964), tên thật là Đào Thị Nguyệt Minh, là nữ nhà báo, nhà thơ Việt Nam thời tiền chiến. Bà là nhà thơ nữ nổi tiếng trong phong trào Thơ Mới.
- Phan Thị Nga (?-1964), sinh trưởng trong gia đình gia thế, con gái ông Phan Huy Thịnh, một y sĩ ở Hội An. Cô Nga học trường Nữ sinh Đồng Khánh (Huế). Năm 1930, tham gia cách mạng, bị bắt nhốt 11 tháng trong nhà lao Thừa Phủ vì tàng trữ sách cấm. Ra tù, được đưa về gia đình quản thúc một thời gian. Cuối năm 1934, cô có chuyến đi Nam Kỳ dài ngày, ở đây cô cộng tác rồi trở thành trợ bút báo Phụ nữ tân văn.
- Nguyễn Thị Manh Manh (1914-2005) tên thật là Nguyễn Thị Kiêm (trong một số trường hợp ghi là Nguyễn Thị Kim), còn được biết đến dưới biệt hiệu Manh Manh nữ sĩ, các bút danh Lệ Thủy, Nguyễn Văn Mym, MYM, M., M.M, là nữ nhà thơ, nhà báo từng làm sôi động làng văn làng báo Nam Kỳ những năm 1930. Tuyển vào làm trong tòa soạn, đăng bài, tổ chức cho cô Kiêm và cộng sự đi thực tế và diễn thuyết khắp Nam, Trung, Bắc, báo Phụ nữ tân văn đã góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy cô Nguyễn Thị Kiêm trở thành một biểu tượng của người phụ nữ mới, nữ nhà văn hiện đại ở Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.
Một số trích đoạn hay:
- “Thiệt đàn bà ta từ xưa đã biết làm lụng nhọc nhằn, nhưng mà không biết là mình có quyền lợi. Chỉ biết có nghĩa vụ, chịu cực thì có mà giá trị và hạnh phúc thì không. Ngày nay thì đàn bà còn phải làm lụng hơn xưa nữa, nhưng mà cái thời kỳ hành động nầy khác xưa một điều: là chị em Việt Nam không chịu làm như nô bộc. Chị em hành động là để được có quyền lợi, để được đãi là bạn ngang hàng với đàn ông. Bởi muốn thế nên chúng tôi khuyên chị em phải tổ chức cho thành đoàn thể.”
(Mme Nguyễn Đức Nhuận, “Phụ nữ An Nam đã bước vào một thời kỳ hành động mới”, Phụ nữ tân văn, số 79 (27/11/1930), tr.14)
- “Báo Phụ nữ tân văn lại tái sanh; lần nầy cũng như lần trước, báo Phụ nữ [tân văn] nguyện làm một cái cơ quan giáo dục và phấn đấu của phụ nữ An Nam.
Tôi muốn nói rằng: Đây là nơi diễn đàn để cho chị em nào có kiến thức và nhiệt thành phô bày tư tưởng, ngõ hầu giáo dục lẫn nhau, sao cho càng ngày đoàn phụ nữ càng hiểu rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mình, biết đường nào đáng cho mình noi theo mà tấn hóa.
Đây là trường học chung, không ai là thầy ai cả, vì mỗi người đều nhờ kiến thức của kẻ khác và cũng giúp ý kiến vào cho mọi người.
Cơ quan nầy lại chính là một lợi khí, chị em ta dùng đó mà phấn đấu để tranh sống còn với các đoàn thể khác. Sống còn là một câu tóm tắt quyền lợi của chị em, là: được học, được chọn bạn trăm năm cho hợp với tánh tình và quyền lợi của mình, được làm lụng theo những điều kiện công bình (như dạy học, làm thuê, làm thợ được hưởng lương bổng đáng với công làm và được cấp dưỡng những khi thai sản). Sanh ở thế kỷ nầy, những quyền đó cần cho sự sống của chúng ta lắm.”
(Mme Nguyễn Đức Nhuận, “Cơ quan giáo dục và phấn đấu của phụ nữ Việt Nam”, Phụ nữ tân văn, số 83 (21/5/1931), tr.5)
CHUYỆN VUI Ở NAM KỲ
“Cách mấy tháng trước đây có nổi lên một phong trào mà có báo gọi là “phong trào thầy Cắt”… Chắc bạn độc giả hãy còn nhớ ba ông tiên miền Hậu Giang chớ? Thầy Cắt, thầy Lụi, thầy Quất, có người còn mong cho có ông thầy Đạp nữa là đủ bốn người để hợp thành “tứ quý”. Nhưng rủi quá - nên nói là may mới phải - vì người mình hay nói “nhứt bất quá tam” nên vừa được ba ông tiên thì giải tán hội “thần độ thế” rồi cái phong trào nầy êm hồi nào cũng chẳng ai hay!
Vừa rồi, tôi có gặp một ông bạn ở Chợ Lớn, nhơn nhắc chuyện nầy, bạn tôi cười mà bảo: “Có tứ quý rồi chớ! Mà đều tại ông “tiên” thứ tư nầy ra trễ nên ít người biết.” Rồi bạn tôi, kể cho tôi nghe chuyện “ông thầy Hèo”.
Ông thầy Hèo ở Chợ Lớn, người Khách trú, lối… tuổi, “phát thời” lối vài tháng trước đây, nhằm lúc mấy ông tiên Lục tỉnh được thạnh hành. Ông nầy cũng cho thuốc cho các chứng bịnh “mà không ăn tiền”. Thuốc gồm có hai món: nước lã và dầu phộng mà ông đã làm phép. Ông không ăn tiền nhưng buộc bịnh nhơn ăn chay mấy tháng hay là một năm mới được hiệu nghiệm. Có người uống nước lã với dầu phộng và ăn chay mà không hết bịnh, đến thưa với ông thì ông bắt bịnh nhơn ấy nằm xuống cho ông nện vài hèo (gậy) để chữa bịnh! Vì vậy người ta gọi ông là ông “thầy hèo”. Người ta cũng ùn ùn đến ông thầy hèo, độ ấy, dầu phộng trong Chợ Lớn bán chạy lắm, có một người rước ông tiên nầy về nhà nuôi và giữ độc quyền bán dầu phộng cho các bịnh nhơn đến đó xin thuốc của thầy. Vì chuyện đố kị làm sao đó, người ta kể chuyện nầy cho lính hay, ông thầy hèo bị trục xuất, đuổi về Tàu. Sau khi ông nầy về xứ, các bệnh nhơn đã hứa với ông ăn chay mấy năm, mấy tháng, lần lượt ngả mặn hết. Người ngả mặn cãi lời thầy nên đau lại cũng phải; còn người ăn chay ăn mãi không thấy bớt bệnh, tức mình cũng ngả mặn luôn. Kẻ không bị nện hèo không hết bịnh, kẻ bị nện hèo cũng không lành mới tức cho chớ!
Đó là xong chuyện thầy Hèo, là đủ tứ quý!
Vài ngày sau khi nghe bạn tôi nói chuyện nầy tôi gặp một người bà con ở Châu Đốc lên Sài Gòn, nói qua tình hình dưới tỉnh, nhân nhắc đến cảnh điêu tàn của mấy “cựu tiên ông” mới kể cái lịch sử của ông tiên đầu nhứt cho tôi nghe. Ông tiên đầu nhứt không phải là thầy Cắt mà tức là “thầy Giũa” nghĩa là “tứ linh” kia thành ra “ngũ ấn”. Sắp thứ tự thì mấy cựu tiên ông ra trước ra sau như vầy: thầy Giũa, thầy Cắt, thầy Lụi, thầy Quất, thầy Hèo. (Đây không kể mỗi ông có vài người đệ tử).
Thầy Giũa là một ông già Cao Mên, lối sáu, bảy chục tuổi, không vợ con gì hết, ở một mình trong chòi lá trong một làng đàn thổ, gần rừng, xa Nam Vang chừng 6, 7 cây số, về đường đi Kom Mong Bư. Ông này phát tài vào lối tháng chín năm ngoái. Bên hè nhà ông có một khúc gỗ. Một hôm ông nằm chiêm bao thấy có ông tiên bảo giũa khúc củi kia để cho người bịnh, bất kỳ bịnh nào, uống thì lành căn dứt bịnh. Tiên lại dặn cẩn thận:“Nhà ngươi chớ lấy tiền nhiều, cứ lấy ba xu mỗi người”. Ông già Cao Mên thức dậy nhớ đành rành nhớ rõ số ba xu nên từ đó truyền bá cho làng xóm hay, để ai có bịnh đến cho ông ta chữa… Lần lần tiếng đồn xa, thiên hạ nườm nượp tới. Mỗi người phải nạp ba xu, ba cây nhang, ba lá trầu, rồi “thầy giũa” sẽ mài cho một chút vỏ cây làm thuốc trị các chứng bịnh. Lúc ấy, con đường Nam Vang đi Kom Mong Bư trở nên tấp nập, xe hơi, xe autobus, xe kéo, xe ngựa rần rần người buôn bán đem gánh, đem quán đến ở gần nhà thầy, cụm rừng trở nên cái hội chợ. Hầu hết các người bịnh ở châu thành Nam Vang đều rủ nhau viếng thầy Giũa, mỗi ngày thầy ta góp được 5, 6 thùng thiếc xu. (Vì thầy giũa không có tủ nên lấy thùng thiếc đựng dầu lửa để góp xu).
Vì đông người quá, thầy phải rào khúc củi bằng một hàng rào tre, không thì người ta ào vào, giành người cúng trước, người cúng sau. Lại có vài người xin giũa thế cho thầy, làm “công quả”. Rồi bịnh nhân mới lo lótcho kẻ công quả ấy để tới trước khỏi đợi lâu… Chẳng bao lâu, tin nầy bay đến quan trên, lính đến bắt thầy Giũa và vác hết mấy thùng xu về bót. Được vải bữa, lính thả thầy Giũa về, người ta hay, chạy tới nữa. Làm như vậy vài lần, đến sau, không thấy ai được lành mạnh nên người ta lần lần bỏ thầy Giũa trả rừng trả củi cho thầy mà trở về thành phố.
Đó là thầy Giũa; đủ năm thầy!
Trong ngũ ấn nầy, chỉ có thầy Cắt là lợi hại hơn hết, hiệu nghiệm dai hơn, nên trước khi thầy xuất cốt tiên ra, lại báo cho dân nghèo bị điên đảo một trận đích đáng khác. Người ta nhơn danh ông thầy Cắt mà lường gạt…
Cách mấy tháng trước, ở Cần Lố (Sa Đéc) phát sanh ra một vụ bán cắt kè [tắc kè]! Một người đàn ông tác “sồn sồn”, bữa kia đến một nhà đủ ăn, bảo vợ chồng chủ nhà: “Nhà ông có cắt kè không? Ông biểu trẻ kiếm cho tôi ba con lập tức đi, tôi sẽ trả cho ông mười hai đồng bạc... Tôi đi mua cắt kè cho ông thầy Cắt ở bên Cần Lố làm thuốc”. Người chủ nhà nghe mừng quá, bắt ba con cắt kè ở trong nhà đưa ra, quả thật chú nọ xỉa ra 12 đồng. Người mua cắt kè lại dặn chủ nhà nên mua giống đó cho nhiều, để trữ đó rồi bán lại cho hắn. Hắn sẽ dắt lại đó một thầy Khách trú mua 4 đồng bạc mỗi con. Chủ nhà mừng, chắc phen này làm giàu, vì lúc đó thầy Cắt ở Cần Lố còn nổi danh như thần, người ta viếng ông đông đúc.
Rồi từ hôm đó, nhà nầy mướn người đi bắt đi mua cắt kè để trữ mà bán cho người Khách trú… Không nói chắc độc giả cũng biết kẻ đem cắt kè đến bán là một bọn đồng mưu với chủ bày kế kia. Tiếng đồn ra: “Thầy Cắt mua cắt kè làm thuốc” làm cho người nào cũng đi kiếm bắt cắt kè, nhưng họ không biết cái giá cao nhất là 4$ một con nên bán rẻ cho mấy nhà chứa. Mấy ông bà nào có tiền dư thôi thì mua hết, đựng cả lu, cả khạp, tính trở qua Cần Lố bán cho Khách trú làm thuốc ở Sa Đéc, lời đồn thấu qua Long Xuyên, Châu Đốc. Người bà con của tôi thấy rõ ngày nào cũng có người lớn con nít, đàn bà xách kéo móc đi bắt cắt kè. Có một cô ra đường gặp một người quảy ba con cắt kè đi trước, đằng sau có một chú theo sau, năn nỉ biểu bán ba con đó chín đồng. Người trước không chịu nói lớn: “Dại gì bán 3 con chín đồng, tôi để bán cho Khách trú làm thuốc 4 con mười hai đồng, có sướng không?” Nghe được, cô giáo kia cũng về mua cắt kè… Sau nầy, ai cũng biết được cắt kè bán giá cao như vậy, thì người nào cũng lo đi bắt đi mua cắt kè. Có người buôn bán, bỏ bán buôn mà bắt mấy con thú ấy. Người trữ nhiều mới trở qua Sa Đéc mà bán, chở cả bao cà ròn. Đến nơi hỏi lại chẳng có ai mua, thôi thì mất tiền rầu rĩ, mở bao cho mấy con cắt kè ra, chớ chở về làm chi mang nhục, thêm tốn tiền xe… Tội nghiệp cho mấy người nghèo, làm thuê làm mướn để góp nhóp tiền đi mua cắt kè bây giờ nghèo thêm, có người đòi tự vẫn vì đồ đạc đã cầm hết vì ham mau làm giàu với số tiền to tướng đó. Lạ là mấy người bị mắc mớp nầy không nói chuyện

